Trạm tín hiệu số 23 - Hugh Howey (Chương 1-5)
Preview bản dịch tiếng Việt của Beacon 23, một cuốn tiểu thuyết giả tưởng tâm lý chiến tranh đã được Bookism xuất bản.
Giới thiệu chung:
Tiêu đề truyện gốc: Beacon 23
Năm xuất bản lần đầu: 2015
Chuyển ngữ bởi: Nguyễn Thành Long
Bản quyền bản dịch: Sách Bookism
Đọc truyện:
1
MỚ TẠP ÂM BÉ XÍU
CHƯƠNG 1
Không ai chuẩn bị trước tâm lý cho bạn đối phó với mớ tạp âm bé xíu. Người ta sẽ nhốt bạn trong máy ly tâm cho đến khi bạn lăn ra bất tỉnh, quay bạn tít mù theo đường parabol[1] cho đến khi bạn ói sạch niêm mạc dạ dày, lấy kim tiêm chọc ra chọc vào cho đến khi bạn thấy đồng cảm với lũ nghiện, và bắt bạn học tận ba lĩnh vực vật lý khác nhau đồng thời lấy bằng y học trong lúc luyện thi thể thao ba môn.
Nhưng người ta sẽ không nói trước cho bạn hình dung chung sống với một mớ lách cách và lít chít và bíp bíp vừa bé vừa xa xăm nó như thế nào. Hay vùng không gian chết lặng trải muôn vàn năm ánh sáng, phủ vây tứ phương tám hướng sẽ hoá khối tạ nghiến nát ta ra sao. Cái lặng dường như chất chồng, chất chồng dần, hệt thứ bóng tối tôi từng thấy trong một hang động ở Tây Virginia. Thứ bóng tối nhai ra bã. Thứ bóng tối ta cảm thấy vươn ra ôm trọn biết bao dặm. Thứ bóng tối ta không chắc mình đủ khả năng lết ra khỏi.
Cái lặng của vũ trụ sâu thẳm là như thế đó. Bởi vậy mà các thiết bị bé xíu đang rù rì trong trạm tín hiệu của tôi hoá thành lũ khốn thần kinh rú rít inh ỏi. Tôi thù không sót đứa nào. Thù từng đứa đang cử động trong cái ổ này. Thù từng miếng bánh răng và bộ rung áp điện và chuông báo tí hon. Mà đâu chỉ mỗi chói tai, chúng nó lại còn thất thường nữa chứ. Thế là cứ mỗi khoảng lặng tôi lại gồng người chờ chúng nó, đợi chúng nó, trông mong chúng nó. Và ngay khi tôi thả lỏng người ra, chúng lập tức đánh úp. Như một mớ kim chích vào màng nhĩ.
Mà chúng nó cũng ranh ma lắm cơ. Chẳng khác nào hươu, chúng dường như cảm nhận được khi nào tôi săn lùng chúng. Tôi bò qua nơi làm việc hệt cái ống thông hơi của trạm, người trang bị đèn pin, kìm cắt dây, băng dính, cùng mấy miếng bọt xốp. Tôi rình bọn chó đẻ ấy. Tôi đặt bẫy, đầu mường tượng mấy tiếng ồn đang luýnh quýnh chạy trốn, mường tượng rằng chúng hẳn phải là thú hoang nhỏ lọt được lên trạm nhờ một mẻ trái cây bị tiệt trùng quấy quá.
Có vẻ chúng nghe thấy tôi đến gần, và các tiếng bíp tiếng vo vo lắng xuống. Run lẩy bẩy như hươu non đầu mùa săn bắn. Tôi vừa mới bò ra là chúng lại giở trò, tiếp tục làm loạn. Hệt như con hươu mười điểm[2] sau hôm mùa săn bắn kết thúc, đứng trên sân nhà ta, nhai hết tulip của ta với cái mặt thộn như muốn nói, “hở?”
Đúng rồi, tao đang săn chúng mày đây bọn khốn. Tao giăng bẫy rồi. Micrô ghi âm để định vị nơi phát ra tiếng bíp. Dầu phun khắp nơi để bẫy tiếng lít chít. Và đủ thể loại bẫy gián dành riêng cho cái mớ tạp âm lách ca lách cách, di chuyển không ngừng.
NASA hẳn sẽ tự hào trước những nỗ lực và sự khôn khéo của tôi đấy chứ nhỉ? Huấn luyện đủ đường. Cuối cùng đi làm ba cái trò này. Nhưng tôi còn biết làm gì đây? Tôi là phần tâm thịt của cái que kem kim loại rỉ sét tít nơi rìa vũ trụ. Tôi ở đây vì tới nay người ta mới chế ra được loại máy tính sau trăm nghìn tỉ hành động sẽ có một hành động ngu xuẩn. Nghe tỉ lệ cũng không đến nỗi nào, nhưng khi các máy tính phải làm cả nghìn tỉ việc một ngày, thế tức là sẽ rất lắm lần nó bị ngu. Và tôi theo lý thuyết sẽ đủ khôn để giải quyết hết.
Tôi dành phần lớn thời gian không săn lùng bọn lít chít và bọn kèn kẹt tại phần tháp hải đăng. Tôi biết chúng tôi không được phép gọi thế, nhưng thực tình nó là hải đăng hai năm rõ mười ra đấy. Ở cuối một đường ống đứng tách biệt với phần còn lại của trạm là một là một khoang nhỏ với cửa sổ khắp xung quanh. Máy phát sóng trọng lực được đặt ở đây. Đây là tâm điểm của cả trạm; những thứ khác chỉ có mặt để đảm bảo nó hoạt động ổn định, và trong số đó có cả tôi.
Cây cần trục dài giữ máy GWB[3] tách hẳn khỏi trạm vì sóng nó phát ra càng xa càng yếu dần, cường độ tỉ lệ nghịch với mũ bốn khoảng cách. Thứ sóng ấy sẽ gây hại cho mọi loại dây nhợ trong bán kính năm hay sáu mét gì đó, kể cả dây thần kinh của tôi. NASA khuyến cáo chớ quanh quẩn cái GWB quá lâu, bởi vì nó sẽ gây ảnh hưởng đầu óc. Nói cách khác là nó khiến người như ngà ngà say, rất dễ chịu. Nhưng họ nghĩ chúng tôi còn biết làm gì khi bị điều ra cái nơi khỉ ho cò gáy này mỗi đợt tận hai năm? Tôi không tin tôi là người duy nhất ngồi dựa lưng vào máy, để nó xoa dịu đầu mình như một ly whiskey nguyên chất và ngắm nhìn mớ đá xám tẻ ngắt trong bãi các tiểu hành tinh, cơn ác mộng của hàng không liên vì sao.
Đối diện cái GWB, ngay trên khung cửa sổ cho góc ngắm các tiểu hành tinh quay vòng giữa vũ trụ đẹp nhất, có một bức ảnh đã phai màu do người tiền nhiệm đính lên, chính vậy mà tôi mới nghi mình không phải người duy nhất ngồi kiểu này. Trong ảnh, một người mặc áo mưa đang đứng ngoài một ngọn hải đăng thứ thiệt trên Trái Đất. Một con sóng cao hơn cả ngọn hải đăng, chắc phải hai chục mét, lừ lừ đằng sau ông ta. Con sóng đang vỗ mình vào cây cột đá hình chóp kia, gây cảm giác đây là bức ảnh cuối cùng chụp ngọn hải đăng và ông già, còn sang tích tắc tiếp theo ngọn sóng cồn ấy sẽ xoá sổ cả hai, trong khi ông già vừa hút tẩu vừa nheo mắt nhìn thứ chắc là máy bay không người lái gắn máy ảnh hay gì đó đại loại vậy, đồng thời nghĩ thầm, “nhìn lạ nhỉ,” và hoàn toàn không hay biết tử thần đang thầm lặng gạch tên phía sau lưng.
Tôi ngắm bức ảnh này còn nhiều hơn ngắm bãi sao và thiên thạch ngoài cửa sổ. Có giai đoạn tôi nghĩ đây là ảnh ghép trên máy. Mấy thứ kiểu này ai mà biết được. Lắm lúc hàng thật trông lại y hệt hàng giả, nhất là nếu nhìn hàng giả mãi thành quen mất rồi. Nhưng ai đời lại đi treo ảnh ghép lên đầy kính cẩn như vậy? Giấy ảnh rất mượt, không như cái mớ giấy in nhiệt[4] nhăng nhít trên này dùng. Và ảnh không một nếp nhăn, tức nó được đóng gói phẳng lì hoặc chuyển phát đến tận nơi. Kiểu nào thì kiểu, có người đã rất kỳ công mang nó lên đây. Thế nên tôi đồ rằng cái thứ ấy là ảnh thật. Tôi đồ rằng ông già kia là người thật, rằng ông ta đang bập nốt hơi tẩu cuối cùng trong khi thế giới bé nhỏ và cuộc đời bé nhỏ của ông ta đi đến hồi kết.
Những lúc chờ xem có cái CPU nào yêu cầu khởi động lại không hoặc chờ tàu thuyền phi ra từ vùng siêu không gian hỏi đường hay cập nhật tin tức về cuộc chiến, tôi lại ngồi ngắm bức ảnh, có khi ngắm mấy tiếng liền, để sóng GWB ru êm. Phản ứng của ông già này trước một vùng xoáy nước là nhún vai và một hơi rít sâu đầy chất chơi. Thật là ngầu. Trong khi tôi loạn cào cào lên chỉ vì mấy cái âm lích kích ngứa tai, xa xăm. Ông gác hải đăng đó trở thành người hùng của tôi suốt một thời gian dài. Cho đến khi tôi tìm hiểu thêm về bức ảnh.
Hóa ra có đến cả chục bức ảnh mô típ tương tự. Và vâng, tấm nào cũng thật hết. Tôi gửi yêu cầu nghiên cứu cho Houston sau khi lục hết kho lưu trữ mà không thấy gì sất, và tôi thừa sức tưởng tượng cuộc trò chuyện diễn ra đầu bên kia, bởi bản thân tôi cũng đã nhiều lần gặp tình huống tương tự khi làm việc tại bộ phận hỗ trợ dưới mặt đất trong thời gian huấn luyện:
Điều hành viên trưởng: “Từ từ, 23 muốn biết cái gì kia?”
“Ờm, thưa sếp, anh ta muốn biết gốc tích một bức ảnh. Và không, đây không phải biểu đồ quang phổ. Hay bất cứ thứ gì... ờm, khoa học cả. Nó là ... thưa, đây. Anh ta gửi ảnh chụp kỹ thuật số xuống.”
Một khoảng lặng dài trong lúc Điều hành viên trưởng trố mắt nhìn anh nhân viên.
“Mẹ, cậu đùa tôi đấy à.”
“Không thưa sếp.”
“Hắn gửi yêu cầu nghiên cứu cho cái thứ này à? Hắn còn lần yêu cầu nào nữa không?”
“Đây lần đầu tiên anh ta gửi yêu cầu, thưa sếp. Hồ sơ anh ta sạch bóng. Phục vụ tại tiền tuyến cho đến khi bị thương và phải thuyên chuyển vị trí.”
“Để tôi đoán nhé: bị đập đầu?”
“Không thưa sếp. Bị một tên Tướng rạch bụng. Được bàn giao cho một trạm tín hiệu yên tĩnh tại ranh giới khu tám.”
“Thế chắc hắn đang ôm ấp cái GWB như một con điếm rẻ tiền sau hai kỳ tại ngũ.”
“Có lẽ thế, thưa sếp. Em cũng đoán vậy.”
“Ôi dào, thôi kệ đi. Thằng cha này tận những anh hùng chiến tranh cơ mà. Tìm xem có thông tin gì không.”
Tất nhiên, sự tình không hẳn đã diễn ra như thế. Nhiều khả năng một anh nhân viên quèn nào đó nhận được yêu cầu, tự lên Bing tra thay vì chuyển sang bộ phận nghiên cứu, rồi gửi tám trang kết quả tìm kiếm cùng đường dẫn lại cho tôi. Làm chắc mất có hai giây. Ba tháng sau tôi nhận được hồi âm từ một tàu kéo trên đường thu thập một lô quặng không phải của mình. Họ nói có hàng cho tôi, sau đó đi ra chỗ vành đai và làm một mẻ kéo trị giá tỉ đô. Khu ranh giới này nhiều chuyện điên rồ lắm, nhưng cứ liên tục nhún vai và làm ngơ thì đâu cũng sẽ vào đó.
Hóa ra, ông gác hải đăng, người hùng trong màn sương của tôi cũng nhát cáy như ai. Rất nhiều tư liệu ghi lại lịch sử đằng sau tấm hình. Ảnh được chụp từ trực thăng có người lái. Trong lúc nhiếp ảnh gia đang chụp ảnh, viên phi công ngoắc tay loạn xạ để ra dấu với ông gác là chạy đi. Chạy đi! Có lẽ ngay sau khi chộp được pô ảnh hổ báo hoai hùng, ông lão vãi cả ra quần, buông tẩu, vừa kịp lao người qua cửa ngọn hải đăng trước khi bị sóng đánh trôi mất.
Anh hùng là như vậy đó: quan trọng là ảnh được chụp lúc nào. Chắc tôi sẽ giữ được hình ảnh anh hùng đến cuối đời. Miễn sao từ giờ đến cuối đời tôi ru rú trong này, bó gối đóng chặt cửa, và tránh xa mọi thể loại ống kính.
CHƯƠNG 2
Với tôi, địa ngục tầng thứ mười hai là một viên bi sắt nhỏ rơi từ độ cao hai phân rưỡi, va vào một khối bê tông.
Đấy là tôi nghe tiếng xong đoán thế thôi: những thứ tạp âm bé khốn nạn nhất chỉ xuất hiện khi tôi đang trên giường, cố gắng chợp mắt. Riêng cái âm này chẳng khác nào con gián. Không phải vì nghe nó như tiếng gián —phải âm khác mới giống tiếng gián — chỉ là nó luôn chường mặt ra mỗi khi tôi tắt đèn phòng, thế rồi lại mất dạng ngay khi tôi dậy và đi lung tung. Tiếng chân tôi doạ nó chạy. Ai giải thích thử coi.
NASA nói mọi thứ trong trạm đều thiết yếu, rằng nếu tôi nghe thấy tiếng ồn tức là có thứ thiết bị đang làm việc của mình. Ý văn học ở đây là tôi nên khớp mỏ lại và lo làm việc của mình đi. Hà. Có lẽ bao than thở và yêu cầu của tôi và những trạm viên khác khiến Houston lộn tiết. Có lẽ đây là cách họ trả thù chúng tôi. Tôi có thể hình dung cảnh trong Trung tâm Kiểm soát Nhiệm vụ ngay lúc này: một tên sơ mi trắng cà vạt đen đang theo dõi theo dõi dữ liệu sinh trắc của tôi trên màn hình, còn sếp hắn thì hỏi tôi vào giai đoạn ngủ REM[5] chưa.
“Đã vào, thưa sếp. Ngủ say như chết.”
“Tuyệt vời. Bật cái máy kêu bing lên!”
Hay cái máy nghe như bi sắt va vào bê tông.
Thứ quái dị trong cái trạm máy trị giá nghìn tỉ đô này khiến tôi vừa tức ói máu vừa lăn lộn trên giường, cố tìm chỗ mát và chút im lặng. Và đúng lúc đó một âm thanh khác nhắc tôi nhớ rằng âm thanh có thể mang tin xấu thực sự. Không chỉ ngứa tai, không chỉ là một nốt lệch nhịp trong bản giao hưởng tĩnh lặng tôi đã cẩn thận điều phối, mà là một âm thanh từ ngày xưa, như tiếng lửa plasma[6] và lựu đạn mảnh, như những câu lệnh cảm tử phát ra từ miệng những kẻ quá chậm chạp, quá già, và đầu quá nhiều sạn để mặc giáp lính, tiếng ồn như bom nổ và còi báo không kích vang rền. Những âm thanh kiểu thế.
Mới nghe tôi nhận ra ngay đó là tiếng gì: máy GWB sập hoàn toàn. Cả trạm ngưng phát tín hiệu. Tôi biết, bởi vì tôi đã thực hành trong các trạm mô phỏng tại Mojave ti tỉ lần rồi. Tôi viết, bởi vì những lần thực hành đó vẫn khiến tôi gặp ác mộng — ác mộng về những gương mặt râu ria bạc trắng lom lom nhìn qua ô cửa sổ giả mỏng manh trong khi tôi cố mò xem lần này họ chơi tôi kiểu gì.
Tại SIMCOM[7] chúng tôi hay đùa là: NASA chơi khăm phi hành gia của mình đủ điều khi họ còn trên Trái Đất, bởi khi lên vũ trụ, chẳng ai nghe được tiếng la hét nữa.
GWB không thể nào sập được. Các bộ dự phòng có bộ dự phòng cho bộ dự phòng. Để tôi nói cho nghe, ruột gan trạm 23 nhùng nhằng vào với nhau lắm. Để sai sót xảy ra, một chuông báo phải bị hỏng, và hỏng thêm chuông dự phòng, và hỏng nốt hai mô-đun độc lập cùng làm chung nhiệm vụ và cứ vài giây lại tự kiểm tra xem mình còn khả năng thực hiện nhiệm vụ đó nữa không. Mọi con chip và phần mềm đều có thể tự sửa chữa và tái khởi động. Có khai hoả một luồng EMP[8] bên trong lòng cục cưng này thì sau hai phát lắc con bé tự bật lên ngay. Muốn nó sập cần tầm hai tá hư hỏng ngẫu nhiên đồng thời xảy ra, cộng thêm một lô các trùng hợp vô cùng khó tin chẳng ai nghĩ lại có thể xảy ra.
Đã có lần một tên đầu to mắt cận tại NASA tính toán tỉ lệ đó. Khả năng cực kỳ, cực kỳ nhỏ. Nhưng xét ra, tính đến tuần trước, khắp dải Ngân Hà có 1,527 trạm GALSAT đang hoạt động. Thế thì tôi đoán tỉ lệ chuyện xấu xảy ra với ai đó sẽ tăng dần đều. Nhất là khi các trạm ngày một cũ đi. Và giờ có vẻ nhân vật ai đó chính là tôi.
Sau màn lộn xộn này, mớ tạp âm đột nhiên lại muốn được tìm thấy. Bao chuông báo động tí hon ở khắp mọi nơi réo gọi tôi. Tôi vội vã bật dậy khỏi giường và trèo thang lên khoang điều khiển, người mặc độc cái quần đùi. Thứ đầu tiên tôi kiểm tra là phụ tải điện, và thấy vẫn ngon lành. Tôi kiểm tra con quay hồi chuyển điều hướng và máy quét vùng sao, và trạm vẫn xác định được vị trí của mình. Tôi kiểm tra máy cổng thông lượng tử, nhưng không thấy tin nhắn nào. Tranh thủ lúc kiểm tra, gõ nhanh mấy dòng gửi Houston, mặc dù chắc mẻm họ đã tự động được gửi các mã lỗi nhập nhằng.
Mất điện. 0314 GST.
Trạm giờ hẳn đã báo lại với họ rồi, nhưng ít nhất họ sẽ biết tôi đang tỉnh. Nhân viên hiện trường. Cái tâm thịt của que kem khổng lồ trong vũ trụ của họ.
Tôi tóm lấy vành đường ống dẫn ra tháp hải đăng và lao mình vào cái máng trượt xuống phía cái máy GWB xa bên dưới. Trò này tôi làm quen rồi, chỉ cần quệt ngón vào thành ống để chỉnh hướng. Ánh đèn đỏ nhấp nháy dọc đường trượt. Một chuông báo động rú inh ỏi phía trước.
Tôi dang rộng tay, đầu ngón miết vào thành kim loại để giảm tốc độ, rồi tôi tóm lấy thanh thang ngang cuối và đu vào tháp.
Máy GWB sờ vào nguội ngắt. Thế tức là nó đang không phát tín hiệu báo lối đi an toàn cho tàu bè quá cảnh. Đồng thời nó cũng không xoa dịu đầu như bình thường. Như thể một lon bia yêu thích vừa bị biến dạng thành nước tăng lực. “Mày bắt đầu làm tao lo rồi đấy,” tôi bảo nó trong lúc kéo từng tấm panô lục giác ra.
Tôi đặt chúng sang bên và nghiên cứu phần mái vòm nhẵn trơn bên dưới. Có tiếng leng keng đâu đó, giống tiếng bu lông lỏng rơi vào hốc. Tôi kiểm tra chỗ ốc vít và không thấy thiếu cái nào. Thêm nhiều tiếng ồn nữa. Dưới đáy cái GWB, tôi kiểm tra hết các dây nhợ và kết nối. Tôi tin điều đầu tiên chúng tôi được dạy phải làm sẽ giống hệt điều ai cũng sẽ làm, kể cả nếu không trải qua khoá huấn luyện trị giá nghìn tỉ đô. Tôi rút hết dây cắm ra. Đếm đến mười. Cắm lại vào. Đảm bảo chắc chắn mọi dây đều cắm chuẩn.
Vừa làm, tôi vừa dành một phần trí lực nhớ về lịch tàu bè qua lại. Trên tường treo cái đồng hồ bằng đồng, loại hàng tuần phải lên giây cót cho khỏi chết. Ở đây đồ chạy pin hay đồ có CPU sẽ bị máy GWB nướng chín hết. Tôi ngưng lên giây cót khi chỗ tạp âm bắt đầu khiến tôi phát điên, bởi vì tôi không chịu nổi tiếng tích tắc nữa. Tôi đoán đã năm phút trôi qua kể từ lúc tôi nhắn tin cho NASA, vậy bây giờ đang vào khoảng 0320. Nếu nhớ không nhầm thì lúc 0330 sẽ có tàu chở hàng chui ra từ Orion, chuyển tiếp đến Vega. Tàu cỡ đó chắc chứa phi hành đoàn tám người. Thế rồi cả trạm bắt đầu quay mòng mòng quanh tôi và tôi phải tự trấn tĩnh lại mình vì vừa nghĩ đến tàu Varsk. Tàu du lịch hạng sang quá cảnh lúc 0342. Nó chứa bao nhiêu, năm ngàn du khách? Chưa tính thuyền viên?
Tôi để nguyên chỗ panô của cái GWB đấy và lại lao máng. Chọn hướng quá dốt. Tôi tông sầm vào tường, cái vai trần trượt một phát, rít lên, rát bỏng, khiến tôi lật nhào và đập bốp cái đầu cùng ống đồng trước khi kịp dừng lại. “Bình tĩnh nào,” tôi tự nhủ. “Từng việc một.” Hồi còn làm lính tôi hay nói to ra ngoài mồm như thế, trong những lần cứ hấp tấp là ruột gan sẽ phòi ra ngoài bụng.
Sau khi kéo người xuống dưới tay vịn máng, tôi lại tiếp tục tăng tốc trong môi trường vô trọng lực. Khi đến rìa trọng lực toả ra từ khu chính của trạm, tôi quay người để chân trôi xuống trước, rơi nốt mấy mét còn lại và khuỵu người tiếp đất.
Trạm phát điện cách đây hai lần cầu thang. tôi trượt xuống thang, phóng vèo qua các khu phòng ở, tay cháy rát. Chân trần tiếp ghi thoát kim loại đánh keng. Các rơle chính là những thanh chữ T có tay nắm cao su, và bọn này rất khốn nạn. Cách tốt nhất để chuyển mạch chúng nó là dùng sức chân. Tôi ngồi xổm xuống, tì một vai dưới thành chữ T, và dồn sức vươn thẳng lên, quay cái thanh chín mươi độ, khiến tiếp điểm ẩn ở phía đầu kia của thanh ngắt kết nối.
Tôi làm tương tự với các rơle khác. Điện cắt thụp, và cả căn phòng tối om. Bóng tối khiến các cảm biến quang điện giật mình và lệnh cho chỗ đèn chạy pin dự trữ nhấp nháy bật lên. Tôi lại đếm đến mười, chờ cho điện rút hết khỏi hệ thống, đề phòng các tụ điện nhỏ có thể vẫn đang lưu trong bộ nhớ thứ đã khiến bộ vi xử lý gặp vấn đề. Tôi muốn chúng quên hết. Sau khi bị ép tái khởi động khôi phục cài đặt gốc, chúng sẽ bật về chế độ như khi mới xuất xưởng. Hệt bọn trẻ sơ sinh.
Bật lại các rơle sẽ khó hơn, vì các thanh chữ T đã chuyển sang nằm dọc. Tôi chống một chân vào lan can và giật mạnh. Phần bụng đã biến tôi thành người hùng nhói đau. Tôi nhớ lại một bài kiểm tra SIMCOM mấy năm trước, yêu cầu tôi phải văn chỗ role đủ mười lần, vặn đi rồi lại vặn lại, khi ấy những tưởng ruột gan mình chuẩn bị vãi hết ra ngoài vết sẹo. Tôi nhớ sau đó mình nói với hội râu bạc rằng: “Không, khoẻ như vâm. Chuyện muỗi ấy mà.” Sau đó đái ra máu nguyên một tuần.
Vặn xong rơle một là ánh sáng lại lên. Tôi vặn cái thứ hai. Không chuông báo động. Tất cả đang tái khởi động, các mạch điện tự phân lại theo bộ nhớ nền protein[9], phần mềm chạy lại từ các mốc tham chiếu hữu tuyến. Tôi chủ yếu thấy khó chịu vì bị phá giấc ngủ, và nghĩ đến mớ giấy tờ hành chính và bản ghi lỗi sẽ phải giải quyết mà tôi thấy ngao ngán tợn.
Giờ tôi leo lên thang, mồ hôi nhễ nhại, chân đau nhừ, vừa ước giá mà mình mang theo đôi giày, vừa kiểm tra đồng hồ. 0326. Tái khởi động toàn bộ sẽ mất hai phút. vậy là còn dôi ra hai phút cho tàu chở hàng từ Orion. Suýt soát phết. Tôi nghĩ về chuyến tàu chở hàng đang hướng về Vega, và về mớ hỗn độn một vụ tai nạn như vậy sẽ gây ra trong bãi tiểu hành tinh. Nhưng tàu Varsk mới là thứ ám ảnh tôi nhất. Năm ngàn sinh mạng đang ngồi cắm tai nghe xem phim. Cười sằng sặc trước các cảnh hài. Gọi thêm một ly gin pha tonic. Ngáy o o. Lần mò tìm ghế trong bóng tối sau khi từ đầu tàu quay về. Một đứa bé khóc ré lên, ai đó hắt xì khiến tất cả cùng sợ xanh mặt vì không khí trong tàu được tái sử dụng.
QT[10] phát chuông báo hiệu. Tin nhắn từ Houston. Tôi ra chỗ màn hình đọc, nhưng chưa đến nơi, chuông báo hiệu lại kích hoạt. Rú vào mặt tôi. Đèn đỏ nện thập thình. Sập GWB lần hai. Sau một lần tái khởi động khôi phục cài đặt gốc.
Độ bất khả thi của sự việc vừa diễn ra nện ầm ầm vào sọ tôi trong khi tôi trân trối đọc từng con chữ trên máy QT, bức thông điệp của NASA. Tôi chớp mắt, nhưng nó không biến mất. Tôi đã hi vọng sẽ được nhận giải pháp, được ai giúp cho một tay. Thay vào đó, tôi chỉ nhận được vỏn vẹn mấy từ:
Mất điện nào?
CHƯƠNG 3
99% thời gian làm việc cho NASA tôi dành để ca cẩm mình còn biết nhiều hơn họ. 1% còn lại tôi dành để run lẩy bẩy, vãi đái ra quần vì nhận ra có khi mình nghĩ đúng. Lần này thuộc số 1%. Đáng ra Houston phải nắm được mọi vấn đề trạm tín hiệu của tôi đang gặp phải, đặc biệt là chuyện nó không còn thực hiện nghĩa vụ phát tín hiệu như một trạm phát bình thường nữa.
Thay vào đó, tôi được một gã ngồi nhấp cà phê nguội nơi miền đất của gái gú và pizza kiểm tra màn hình và nói với tôi rằng không có gì bất thường cả. Trong khi tôi biết trăm phần trăm có thứ khốn nạn nào đó bất bình thường. Cái máy GWB sờ vào nguội ngắt. Và chuông báo lại ré lên.
Tôi gõ thêm một tin nữa. Máy QT sử dụng các hạt phân tử rối[11], và dùng xong là chúng sẽ bị phá huỷ, nhưng giờ tôi không đếm xỉa gì đến kinh phí mà chỉ muốn không phải phí thời gian với cái tên não ngắn ăn hại này. Tôi cố tình bấm nút viết hoa, vì như thế họ sẽ có thể nghe chúng tôi quát lên trong vũ trụ:
GWB SẬP HẲN. KHÔNG PHÁT. TÀU HÀNG VÀ TÀU KHÁCH QUÁ CẢNH. KHỞI ĐỘNG KHÔI PHỤC VÔ DỤNG.
Làm ăn cho ra hồn đi, Houston.
Tôi cố tưởng tượng cảnh đội dưới Trái Đất cứng người bên bảng điều khiển, dụi mắt cho tỉnh ngủ, và sửa hết cho tôi từ xa, nhưng tôi biết không còn thời gian tái khởi động thêm lần nữa rồi, không thể kịp được trước khi có tàu quá cảnh. Chẳng hiểu ma xui quỷ khiến thế nào mà tôi lại lao xuống chỗ cái GWB. Có lẽ là để quan sát, để hi vọng không gì sẽ xảy ra, để không thấy vết tích tàu khi nó băng qua với tốc độ hai mươi lần vận tốc ánh sáng.
Máy GWB vẫn lạnh lẽo vô hồn khi tôi đến nơi, chuông báo vẫn nhấp nháy và hú inh ỏi. Tôi quay sang cửa sổ đối diện vành đai tiểu hành tinh—và một ngôi sao gớm guốc mới bùng lên trong một thoáng ngắn ngủi. Một chớp sáng chói loà. Các vệt kim loại nóng chảy vút đi như thiên thạch. Một đám mây titan bóng loáng bung ra. Các tiểu hành tinh vỡ nát và nhào lộn và va đập vào nhau, bổ thành những tảng nhỏ. Một cảnh huỷ diệt vô biên, không một tiếng động, một vở ba lê và màn diễn ánh sáng rùng rợn.
Một mảnh xác tàu lớn lật vòng vòng, vặn xoắn như giấy gói kẹo, bên thành khoét đen một vệt khổng lồ, và các mảnh vụn côngtenơ đỏ có xanh có xám có vương vãi khắp nơi, hàng hoá bên trong văng hết vào chân không, phần lớn bị nghiền nát không còn ra hình hài nào nữa.
Mọi chuyện xảy ra trong nháy mắt. Mới lúc trước không một dấu hiệu tàn phá nào—chỉ có cái tĩnh lặng và những khối đá đan xen như hà mã—và chợt hiện hỗn độn và cháy bỏng và chết chóc và phế liệu. Một con tàu vũ trụ nặng tỉ tấn di chuyển nhanh hơn ánh sáng va vào tảng đá to bằng một quận nhỏ sẽ gây ra cảnh tượng như vậy đấy. Máy GWB trong trạm tín hiệu tắt đi cũng giống như có ai nhổ mất biển báo gần đoạn đường cua gấp, thứ biển thông báo trước mặt có vách đá. Tôi nghĩ về tám thuyền viên tử nạn. Tám là số binh sĩ trong một đội tiểu đoàn đặc nhiệm. Thường lính chúng tôi không chết nhanh như thế. Lắm lúc, có người sẽ lết được thoát thân và từ từ chết trong cô độc tại miền vũ trụ xa vắng. Nhưng không có ai lết ra khỏi thảm cảnh bên kia tấm kính cửa sổ. Và năm ngàn sinh mạng nữa đang lao đến với vận tốc gấp hai mươi lần ánh sáng.
CHƯƠNG 4
Kho lưu trữ ở tâm trạm tín hiệu 23 chứa gần như mọi sách truyện trên đời. Lướt cơ sở dữ liệu của nó rất dễ rước bực vào người, vì cứ một quyển hay thì sẽ có tầm ba tỉ quyển nuốt không nổi, và chẳng thể nào phân biệt được hai loại này nếu không cắn răng đọc thử một hai chương.
Chính thế mà tôi chủ yếu dành thời gian đọc tuyển tập Wiki, ra đời khoảng năm 2245, vài thập kỷ rồi chưa được bổ sung mới, nhưng vẫn đủ cập nhật để có mục về vũ khí hạt nhân mặt trời và lựu đạn mảnh.
Vì tò mò về bức ảnh ông gác hải đăng và con sóng cồn mà tôi lao đầu vào Wiki tìm câu trả lời, nhưng vô ích. Trước khi gửi yêu cầu nghiên cứu cho NASA, tôi mò thấy một bài viết khó tin khôn tả. Bài viết ấy hiện về trong tâm trí tôi trong lúc tôi quan sát tàn tích của một tàu chở hàng liên hành tinh rải rác trong vũ trụ. Nó hiện về khi tôi thấy thứ gì như hai tàu hải tặc chở hàng cỡ nhỏ di chuyển giữa những khối đá vô hồn và những dải vỏ tàu bị rứt toác. Chủ đề bài viết là về một nghề cổ xưa đã thất truyền từ lâu. Hoặc Wiki nghĩ thế.
Thời tàu bè còn đi trên biển, khi vỏ tàu dùng để ngăn nước thay vì ngăn chân không, và hiểm hoạ cho chuyến tàu là đá ngầm, không phải thứ đá trôi nổi trong vũ trụ, có những người làm một cái nghề bất lương là đánh đắm tàu.
Cái tên nghề đủ nói lên tất cả, và nếu không ghi sờ sờ trong Wiki thì tôi không đời nào tin được: đây là lũ chuyên đánh chìm tàu để kiếm ăn. kiếm những đồng tiền tàn khốc, đẫm máu.
Tôi chỉnh kính phóng to cảnh lên và quan sát lửa phòi ra từ động cơ đẩy và khói trắng phun ra từ bộ tinh chỉnh độ cao của hai tàu chở hàng sơn đen sì đang phóng từ côngtenơ này sang côngtenơ khác. Và rồi vụ sập máy GWB của tôi dần không còn có vẻ là một trùng hợp ngoài sức tưởng tượng nữa. Tôi đang đứng trong ột ngọn hải đăng, và hải đăng không phải thứ ai cũng mê.
Bốn năm thế kỷ trước gì đó, hải đăng phải sập lên sập xuống trước khi bắt đầu chiếu đèn vòng quanh được. Nguyên cớ là ban ngày xây hải đăng thì không sao, còn khi đêm đến, nhiều khối đá cứ không cánh mà bay. Chuyện cứ thế tiếp diễn mấy tháng liền, đến tận khi bên xây hải đăng phải cắt cử lính canh và dần nhừ tử những tên phá hoại. Bạn cần hiểu là hải đăng làm ảnh hưởng đến cần câu cơm của bọn đánh đắm tàu.
Trò đánh đắm tàu này có lẽ ra đời sau khi một vụ tai nạn lớn trên biển bất chợt mang lại bao thứ báu vật. Những người nạo vớt đồ số đỏ và sẵn gan đem các thứ của nả trôi dạt lên bờ đi bán. Chẳng bao lâu sau, những kẻ tinh ranh và tuyệt vọng bắt đầu ngóng trông một vụ đắm tàu lớn nữa. Và chúng tìm cách để tai nạn xảy ra.
Dùng thuyền nhỏ, chúng giả vờ dẫn tàu bè vượt qua các rặng đá ngầm, nhưng thực chất để con tàu mớn nước nông của mình băng qua các bãi đá mà tàu lớn vào chỉ có chết. Hoặc chúng đốt lửa báo hiệu những bến cảng ma. Chúng là giả hải đồ. Chúng giăng xích dọc kênh đào. Những người thiệt mạng thấm vào đâu so với châu báu vơ vét được. Sau mỗi vụ đắm và đâm tàu, luôn có một kẻ ẩn danh xoa tay chắc mẻm sẽ vớ bẫm.
Chính thế mà hải đăng là cái gai trong mắt. NASA cực ghét chúng tôi gọi trạm tín hiệu là hải đăng. Có lẽ bởi vì họ không muốn phường mạt hạng nảy ra những ý tưởng mạt hạng.
Ở quãng xa, bên ngoài trạm tín hiệu của tôi, trong vùng không gian có thể hàng tuần liền không một bóng người, tôi chứng kiến cảnh những tên mạt hạng vừa nói tất bật vơ vét, và tôi bất lực không biết làm gì. Tôi cũng bị nhắc lại cho thấm rằng đời không có gì trùng hợp ngẫu nhiên cả. Ngọn hải đăng bên rìa khu tám của tôi đã bị phá hoại, mất từng viên gạch một.
Tôi đẩy mình ra xa lăng kính và lại chui xuống đường ống, đi báo cho Houston. “Chúng ta gặp vấn đề rồi,” tôi nghe mình tự thoại trong đầu. Nhưng giờ không ai viết những thứ như thế nữa. Chúng tôi chỉ liên hệ với Houston khi gặp vấn đề. Chẳng việc gì phải lãng phí hạt phân tử rối thông báo điều thừa thãi.
Bị phá hoại, Tôi gõ vào QT. Không cần in hoa hết. Quan sát tàu chở hàng nổ tung thành vô số mảnh vụ, và một phi hành đoàn tương đương một tiểu đội chết dưới bàn tay hải tặc, khiến tôi đờ đẫn cả. Tái khởi động không thành công. Tôi xoá đi và viết lại là Tái khởi động thất bại. Cần trợ giúp.
Tôi bấm “gửi.” Sau đó là “xác nhận.” Và cuối cùng là: “Vâng, tôi chắc chắn.”
Máy kêu bíp. Ít nhất đây là một âm thanh tốt. Hẳn trạm đã bị đồng loat phá hoại rất nhiều chỗ, kể cả chế độ báo lỗi qua QT cho Houston. Và đúng lúc đó sự thật nhào đến quật bóp vào người tôi như một bao gạch. Đúng lúc đó bao tháng đằng đẵng bị mớ tạp âm bé tra tấn không còn khiến tôi phát điên nữa. Ngay từ lúc nhận ra trạm mình bị bọn đắm tàu phá hoại, tôi mặc định rằng chúng tấn công từ bên ngoài. Chúng mò ra cách vượt qua mọi biện pháp an ninh nồi đồng cối đá của NASA. Chúng có chiêu bài hack điêu luyện nào đó.
Thế rồi tôi nhớ lại lần mình đổi hàng với mấy gã điệu bộ mờ ám. Tôi nhớ lại lần có tàu đến giao kết quả yêu cầu nghiên cứu cho tôi trước khi đi đút túi ít quặng ở khu vành đai. Thời tàu bè làm bằng gỗ, côn trùng gây hại quá giang trong các hộp trái cây. Gián nở từ trứng đẻ trong thùng các tông. Chuột lẻn vào đáy tàu, rồi lại đẻ thêm chuột. Tiên sư, tôi ăn tàn phá hại kiểu gì rồi?
Tôi nhớ lại những tạp âm tưởng như luôn tìm cách trốn chạy mỗi khi tôi đến gần. Thế rồi đột nhiên, tôi không còn cô độc trong trạm nữa. Tôi lướt nhìn bức tường đầy nút bấm và màn hình. Xung quanh tôi muôn vàn ống dẫn, các bó dây nhợ lủng lẳng rủ xuống từ trần nhà, những panô để mở từ những dự án mới đây của tôi nhằm nghiên cứu phần lòng mề cỗ máy của NASA. Và lũ côn trùng ghê tởm ở khắp muôn nơi. Theo dõi tôi. Những con côn trùng kim loại không dính bẫy của tôi, bởi vì tôi đánh sai kiểu bẫy.
Tôi nhìn giờ. Mười phút nữa Varsk sẽ qua hải phận này. Hải phận. So sánh hơi quá đà. Hoặc có thể bởi vì tôi tôi cảm thấy như sắp chết chìm. Về lại chiến trường. Tôi nằm trong bệnh viện với chiếc huân chương trên ngực, được đeo vì đã có công cứu một nhúm người chưa bằng một mẩu số sinh mạng sắp chết đi bởi tay tôi. Lần này sẽ không ảnh ọt. Chỉ vài dòng tít về vụ tai nạn. Năm ngàn người chết. Và tôi vẫn là anh hùng, mồm bập bập tẩu, sau lưng sóng dâng lên.
QT kêu bíp báo tin nhắn từ NASA.
Bcth[12]
“Báo cáo tình hình à?” Tôi hỏi khoảng không. Tôi trả lời lũ côn trùng, và cũng không hẳn trả lời ai hết: “Tình hình ổn cả, đồ lợn ạ. Bố mày ăn hại rồi.”
Tôi nện bàn tay lên màn hình gần nhất, và các thông số xanh xanh lét màu phốt pho hơi rung rinh. Bọn đánh đắm tàu. Nếu sắp tới chúng không giết kèm cả tôi là may lắm đấy. Giờ này còn chưa giết là đã phước quá rồi. Tôi cần nhắn cho NASA để báo họ dè chừng những vụ hack kiểu này trong tương lai. Hack phi kỹ thuật[13] luôn là cách dễ ăn nhất, bởi vì những người như tôi luôn là mắt xích yếu nhất. Tôi chẳng buồn dùng QT dè sẻn. Tôi gõ vắn tắt một lời giải thích, phỏng đoán khả dĩ nhất của tôi:
Nhận hàng lậu. Bọ trong hàng, bọ kim loại. Một trò hack. Đồng loạt đánh sập mọi hệ thống. Kiểm tra các trạm khác. Đọc lịch sử những kẻ đánh đắm tàu. Hải tặc hôi của. Không biết chúng có định sửa lại trạm không. Tàu khách 5k ng[14] đang đến. Tái khởi động có thể hữu dụng, nhưng chúng tắt GWB ngay khi nó bật lên.
Tôi bấm gửi. Tôi xác nhận. Nhưng trước khi chọn “Tôi chắc chắn,” tôi nhìn lại lời giải thích của mình. Đúng chưa nhỉ? Chắc chắn có một khoảng dừng trước khi chuông báo động kêu, như thể màn tái khởi động đã thành công nhưng GWB lại bị tắt tiếp. Liệu chăng lũ bọ vẫn còn đây, vẫn theo dõi tôi? Tôi có thể xử lý chúng không?
Nhòm vào đường ống dẫn ra tháp hải đăng, tôi nghĩ về một thứ chất khử trùng. Tôi nghĩ về chiến tranh, nơi bao người hi sinh để đổi lấy sự sống cho người khác. Nơi chúng tôi cân nhắc cả việc diệt chủng. Nơi những tội ác kinh hoàng nhất trở thành mục đích cao thượng nhất.
Tôi ụp tay lên cái bụng trần, xoa những lằn thịt vặn xoắn, những viền sẹo nổi gồ với sự tích của riêng mình. Tôi ngưng lại. Không còn thời gian làm chuyện đó. Chỉ còn thời gian hành động.
CHƯƠNG 5
Có một đoạn dây trên đầu truyền điện ra cái đích đáp đỏ, cái chữ O to đùng màu đỏ để dẫn đường cho tàu tiếp tế vào trạm. Tôi tóm lấy nó và giật mạnh, tháo tung nó ra khỏi dây dán. Mò lấy cái kéo, tôi cắt một đầu và lôi từ trong ren ra một đoạn vừa đủ dùng. Tôi vớ cái cờ lê và vào ống phóng xuống tháp hải đăng.
Máy GWB vẫn mở toang hoang, panô ngổn ngang trên sàn. Đồng hồ trên tường báo sai giờ. Tôi tí thì muốn vặn nó lên, chấp luôn tiếng tích tắc. Giờ mà biết còn bao lâu nữa thì hay biết mấy.
Tôi cắt nguồn điện dẫn ra cái GWB. Nếu nhớ không nhầm giản đồ thì điện thế của nó và đèn bến đáp đều là 220. Lâu lắm rồi tôi chẳng phải viện đến mớ kiến thức tào lao này. Dùng cờ lê, tôi tháo sáu cái bu lông ghim mái vòm máy phát sóng trọng lực vào đế, giống như tháo đèn chiếu khỏi ngọn hải đăng. Tôi thó nó ra và bỏ cờ lê lại. Vừa ôm cái GWB như quả bóng chuyền, tôi vừa chậm rãi leo xuống ống dẫn đến phòng điều khiển, lộn người trước khi bị trọng lực hút, khuỵu người đáp xuống.
Tôi đặt cái GWB ở giữa sàn, gần cuộn dây điện. Giờ lại xuống thang ra chỗ mấy cái rơle. Tôi áp lưng vào đẩy, và chúng quay dễ dàng hơn chút, có lẽ vì nãy đã được vặn đi vặn lại rồi. Khi điện ngắt, tôi leo lên luôn, không buồn đợi mắt quen tối hay đèn dự phòng bật lên. Vừa va đập vừa mò mẫm, phải qua hai bậc thang tôi mới nhìn lại được. Có tiếng điện rút vo vo khỏi máy bơm hay cánh quạt ở đâu đó. Tiếng chân tôi đạp thang.
Tôi lột vỏ dây điện cái đích đáp và nối nó vào máy GWB. Lũ côn trùng kinh tởm kia đang theo dõi tôi. Giật giật các cẳng kim loại tí hon. Cặp mắt camera hồng ngoại đầy tò mò. Chầu chực bên rơle và đầu vào điện để sẵn sàng quậy tưng bừng theo chỉ dẫn. Tôi tự nhủ vậy với bản thân, mặc dù tôi có biết gì đâu. Mặc dù tôi nghi mình hơi loạn trí rồi. Mặc dù tất cả mọi chuyện có thể đều chỉ do tôi tưởng tượng ra.
Ba phút. Mối nối rất chắp vá, nhưng chắc sẽ truyền đủ điện. Vừa đủ để chiên chín mọi thứ pin và đồ điện tử trong vòng bán kinh mấy mét. Chiên chín mọi con chip không được chế với lớp bảo vệ. Chiên chín bất cứ thứ gì không khởi động khôi phục cài đặt gốc được.
Quay lại chỗ các rơle điện, đặt tay chân lên thanh vịn ngoài và trượt xuống. Va tím đầu gối. Cà nhắc đi dưới ánh sáng đèn dự phòng. Tôi vặn rơle, hình dung cảnh những lão già râu bạc lừ mắt nhìn mình qua cửa kính, quan sát tên đần kia làm sai loạn mô phỏng, ghi chép vào bìa kẹp, lắc những cái đầu mệt mọi.
Rơle đầu kết nối, và ánh sáng lên trở lại. Sau đó đến cái tiếp theo. Một khoảng lặng chờ GWB ấm lên, thế rồi vang lên một loạt tiếng bôm bốp và xì xèo khi nó nướng hết mọi thứ lân cận. Không kịp gióng chuông báo động. Bóng tối bao trùm. Bóng tối chập chờn, ngập ngừng, và rồi thống trị tuyệt đối.
Lại leo thang, lần này đèn tắt hết. Không thứ gì. Chỉ tiếng tôi thở hồng hộc, tiếng tay đập vào thang, tiếng tích tắc của cái đồng hồ trong thâm tâm, suy tư của những du khách trên tàu, và của cả những người tôi không cứu được. Xác. Xương. Những bộ hài cốt nhăn nhở. Anh em bằng hữu mặc quân phục, những gương mặt nghệt đi ngay trước khi hồn lìa khỏi xác, mặc dù họ thừa hiểu chuyện gì đang diễn ra, mặc dù họ đã tiên liệu số phận mình từ khi còn ở trại huấn luyện tân binh nhiều năm trước, mặc dù họ cùng đồng đội đã từng chứng kiến cảnh đó rồi, nhưng thứ trụ lại lâu nhất luôn là niềm hy vọng mong manh rằng mình sẽ gượng qua được nghịch cảnh này, rằng mình sẽ sống đến ngày nhạc ngựa khải hoàn, rằng tên mình sẽ xuất hiện trong cuốn hồi ký chiến tranh, ở vị trị bìa sách, không phải trong phần dành tặng.
Tôi mò ra cái GWB nhờ bò lết lung tung và vớ đại trong bóng tối. Tìm dây. Giật hết ra. Rồi lại bò xuống thang làm lại từ đầu. Kiệt quệ. Y hệt tập thể lực. Bị điều động hành quân. Ở đây tôi bỏ bê luyện tập quá. Bụng tôi đau quặn, nhưng chắc là do hồi ức hiện về. Một ký ức đau đớn. Không hơn không kém.
Tôi vặn rơle với hy vọng đây sẽ là lần chót. Thêm một lần khởi động khôi phục cài đặt gốc, các con chip tự tái cơ cấu, phầm mềm quay về trạng thái sơ khai, điện nhấp nháy lên lại, một loạt những tiếng bíp và vù vù và xi xèo đúng chuẩn xuất hiện.
Tôi tự hỏi liệu bọn đánh đắm tàu có lường trước tình huống này không, liệu lũ côn trùng của chúng có CPU tự phục hồi không. Có thì thôi mà không thì tốt. Không còn thời gian nấn ná nghĩ nữa. Tôi lại trèo lên thang, tay run run, chân tê dại, ước ao giá mà mình chịu tắt trọng lực đi trước khi bắt tay vào làm. Làm thế mới khôn. Một người lính giỏi sẽ tính trước được chuyện này.
Tôi vớ lấy cái GWB và chui xuống đường ống. Tại tháp hải đăng, khung cửa kính vẫn đang phóng to cảnh xác tàu. Ngoài đó có bóng di chuyển và hoạt động, lũ chó đẻ. Tôi vít xong hai cái bu lông là chuyển sang vớ nắm dây luôn. Không còn thời gian quay lại tắt điện để cắm vào, thế là tôi quyết định cắm trần luôn. Cực âm trước, cẩn thận không để hai dây chạm nhau hoặc nối vào cùng một mặt phẳng kim loại. Sau đó đến cực dương, tia lửa bắn toé tung ngay khi tiếp xúc, nhưng rồi bình ổn lại khi tôi vặn hai đầu dây đồng chặt vào với nhau.
Tôi ngồi lui lại. Lắng nghe tiếng vo vo. Đặt tay lên tấm vòm. Nó đang ấm lên, hay đây là thân nhiệt tôi phát ra? Do bàn tay nhễ nhại mồ hôi của tôi à?
Đồng hồ không có. Nhưng tôi biết thời gian ngắn lắm, và để biết sửa như vừa rồi có ăn thua không thì phải chờ xem có đột nhiên xuất hiện một quầng sáng chói loà nuốt gọc khung cửa sổ, thêm một xác tàu khổng lồ để lục lọi, có điều lần này sẽ đầy nhóc tử thi và các thứ tài sản quý giá của họ. Tôi nghĩ về những tên đánh đắm tàu thời xưa lục lọi rương hòm tủ gỗ và thu thập ván tàu cùng các cuộn dây trong khi xác chết dạt lên bờ. Tôi hình dung cảnh những kẻ trong môi trường vô trọng lực tháo giày khỏi xác. Lục lọi túi áo quần. Giựt dây chuyền vàng trên cổ. Hút những ngón tay vô hồn để nó lỏng nhẫn.
Rồi tôi thấy một anh lính nhỏ khiếm đảm ngồi trong đường hào lầy lội trên một thế giới xa lạ, ngón treo trên cò súng, muốn được bắn. Bắn đi. Đồng đội xung quanh đang bắn, và họ đang hi sinh. Điều tuyệt vời nhất tôi từng thực hiện trong đời là ngồi không, và nhờ vậy mà tôi được huân chương. Tôi từng là một người hùng. Và nếu ngắm ảnh tôi, bạn sẽ thấy tôi mãi là người hùng.
Nhiều phút trôi qua. Hàng giờ trôi qua. Tôi khóc nức nở vì nhẹ nhõm. Không gì xảy ra cả. Không gì hết. Năm ngàn nhân mạng ngọ nguậy vụt qua chỗ tôi với vận tốc hai mươi lần ánh sáng không để lại chút dấu vết. Họ tiếp tục đi, bỏ tôi lại đây, mắt mũi sụt sịt. Thêm mười tám tháng trực, một mình, sau lưng là biển, chăm chút cái trạm cùng mớ tạp âm bé xíu của nó.
Bản đọc thử đã khép lại ở đây, nhưng kiếp đời trên trạm tín hiệu số 23 của người lính cô độc này chỉ mới bắt đầu.
Để biết hành trình vật lộn trong khổ đau của anh rồi sẽ khép lại ra sao, xin mời quý độc giả tìm đọc ấn phẩm tiểu thuyết Trạm tín hiệu số 23, nay đã được Bookism xuất bản và phát hành trên toàn quốc.[1] Parabol: một dạng đường cong cân xứng theo hình chữ V, thường gặp trong toán học và vật lý.
[2] Trong săn bắn, hươu được cho điểm dựa trên số nhánh trên gạc. Hươu mười điểm là con hươu có gạc mười nhánh.
[3] GWB: viết tắt của Gravity Wave Broadcaster, tức Máy phát Sóng Trọng lực.
[4] Giấy in nhiệt: loại giấy mỏng được tráng hoá chất, đổi màu khi tiếp xúc với nhiệt, thường dùng cho các máy in nhẹ và rẻ tiền.
[5] REM: viết tắt của Rapid Eye Movement, giai đoạn đồng tử di chuyển vô thức dưới mí mắt trong lúc ngủ, cơ thể giãn hoàn toàn, và người ngủ mơ rất sâu.
[6] Plasma: một trong bốn trạng thái cơ bản của vật chất (bên cạnh rắn, lỏng, khí). Plasma hình thành khi khí ga bị đốt ở nhiệt độ rất cao hoặc bị đưa vào một trường điện từ mạnh, tạo ra các ion.
[7] SIMCOM: viết tắt của Simulation Complex, tức Khu Liên hợp Mô phỏng.
[8] EMP: viết tắt của Electromagnetic Pulse, tức Xung Điện từ, có thể gây gián đoạn hoặc huỷ hoại các linh kiện điện tử.
[9] Bộ nhớ nền protein: các bộ nhớ sử dụng phân tử sinh học để lưu trữ dữ liệu.
[10] QT: viết tắt của Quantum Tunneler, tức máy cổng thông lượng tử.
[11] Hạt phân tử rối: các hạt phân tử hoạt động bằng nguyên lý rối lượng tử (quantum entanglement), tức mọi tác động xảy đến với một hạt phân tử bất kỳ sẽ làm ảnh hưởng đến phân tử có tương quan rối với hạt phân tử gốc.
[12] Gốc là Sitrep, viết tắt của Situation report, tức Báo cáo tình hình.
[13] Hack phi kỹ thuật: hack bằng cách dùng thủ thuật lừa người dùng tiết lộ thông tin bảo mật hoặc thực hiện hành vi tạo khe hở cho hacker đột nhập.
[14] Gốc là Lux liner with 5k pop, viết tắt của Luxurious liner with 5.000 population, tức Tàu khách 5.000 người.



